Friday, 23 June 2017

TRẠI CẢI TẠO SAU 30-4-1975 : LỤC LẠI MỘT BÁO CÁO CỦA ÂN XÁ QUỐC TẾ (Quỳnh Vi - Luật Khoa Tạp Chí)





Posted on 23/06/2017

Tháng 12/1979, tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International) đã có chuyến làm việc chính thức 10 ngày tại Việt Nam về vấn đề giam giữ các cựu quân nhân, nhân viên và quan chức của chính phủ Việt Nam Cộng hòa (VNCH) sau ngày 30/4/1975.

Họ đã gặp gỡ và làm việc với chính phủ, cũng như được sắp xếp để thăm một số tù nhân tại các trại giam Chí Hòa (Sài Gòn), Xuyên Mộc (Đồng Nai), Hàm Tân (Thuận Hải), Hà Tây (Hà Sơn Bình), và Nam Hà (Hà Nam Ninh).

Tháng 3/1981, Ân xá Quốc tế đã công bố một bản báo cáo dài 26 trang về kết quả của chuyến đi đó, tóm lược tình hình của những tù nhân bị giam giữ tại các trại cải tạo (re-education camp) khắp cả nước. Báo cáo còn bao gồm thư phúc đáp, trả lời qua lại giữa tổ chức này và nhà nước Việt Nam trong năm 1980.

Báo cáo của Ân xá Quốc tế cho rằng, việc nhà nước Việt Nam tiến hành bắt bớ các cựu quân nhân, nhân viên và quan chức VNCH, cùng những người bất đồng chính kiến khác, cũng như giam giữ họ liên tục không thông qua xét xử từ 1975 đến 1979, là một sự vi phạm quyền con người nghiêm trọng dựa theo luật nhân quyền quốc tế.

Trước hết, Ân xá Quốc tế cho biết, họ luôn có mối quan ngại về tình hình của các cựu quân nhân, nhân viên và quan chức VNCH sau 30/4/1975.

Trong thực tế, các trại cải tạo được thiết lập không khác gì các trại giam thông thường. Thế nhưng, những người bị đưa vào đây vốn không hề bị cáo buộc bất kỳ một tội danh nào, cũng như không được đưa ra truy tố hay xét xử theo luật định.

Họ bị đưa đi học tập cải tạo chỉ vì họ đã tham gia vào quân đội hoặc chính quyền VNCH trước kia.

Lịch sử hình thành chế độ cải tạo dành cho cựu quân nhân, nhân viên và quan chức VNCH 
Ngày 30/4/1975, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CPCM) lật đổ thành công chính quyền VNCH và lập ra Cộng hoà Miền Nam Việt Nam (CHMN).
Trong thời gian 15 tháng, CHMN đã là một quốc gia độc lập, quản lý toàn bộ miền Nam Việt Nam từ 30/4/1975 đến 2/7/1976.

Uỷ ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định tổ chức họp báo quốc tế ngày 8/5/1975. Người đứng giữa, đeo kính râm là tướng Trần Văn Trà. Nguồn: Herve GLOAGUEN/Gamma-Rapho via Getty Images.

Ngày 4/5/1975, tức chỉ 5 ngày sau khi chiếm được Sài Gòn, Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn-Gia Định đã được CHMN thành lập để tiếp quản miền Nam Việt Nam.

Ủy ban Quân quản đã yêu cầu tất cả cựu quân nhân, nhân viên và quan chức chế độ cũ phải đăng ký trình diện tại địa phương. Đến ngày 31/5/1975, đã có 44.369 đối tượng đến đăng ký.

Ngày 11/6/1975, Ủy ban Quân quản ra quyết định mở các lớp học tập cải tạo chỉ dành cho các binh sỹ, nhân viên chính phủ, và cả các thành phần “cốt cán” của chế độ Sài Gòn cũ, nhằm giúp họ trở thành “những công dân mới.”

Đến đầu và giữa năm 1976, CHMN đã ban hành 2 sắc lệnh về những chính sách dành cho quân nhân, tướng lĩnh, nhân viên công chức và các quan chức của VNCH:

·         Sắc lệnh 1-CS/76 ngày 28/1/1976 về “chính sách đối với những binh lính, hạ sĩ quan, sĩ quan, ngụy quân, nhân viên ngụy quyền và đảng viên các đảng phái phản động đã đăng ký trình diện và học tập cải tạo tốt.”
·         Sắc lệnh 2-CS/76 ban hành ngày 25/5/1976 về “chính sách đối với tất cả những người làm việc trong quân đội, chính quyền và các tổ chức chính trị phản động của chế độ cũ.”

Theo Ân xá Quốc tế, Điều 9, 10, và 11 của Sắc lệnh 2-CS/76 nêu rõ, những người thuộc diện bị tập trung học tập cải tạo chỉ phải tham gia tối đa là ba năm, kể từ ngày bắt đầu cải tạo. Họ có thể được trả tự do sớm hơn, nhưng không ai bị giữ quá ba năm.

Những người có bằng chứng rõ ràng là họ đã gây ra những tội ác trong thời gian chế độ cũ nắm quyền và thuộc vào diện có “nợ máu với nhân dân” sẽ bị mang ra truy tố, xét xử theo luật định.

Báo cáo năm 1981 của Ân xá Quốc tế cho biết, chính phủ Việt Nam đã thừa nhận có hơn một triệu quân nhân, nhân viên và quan chức chính phủ VNCH đã ra trình diện và đăng ký học tập cải tạo.

Tuy nhiên, báo cáo còn cho biết thêm, có trên dưới 40.000 người trong số đó đã bị giam giữ liên tục từ năm 1975 đến năm 1979, tức là trong bốn năm trời mà không thông qua bất kỳ thủ tục truy tố và xét xử nào, cũng như không được thông báo là mình đã phạm tội gì.

Theo Ân xá Quốc tế, đây là hành vi vi phạm vào Điều 11 Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền, cũng như các Điều 5 và 9 của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, là những điều luật quốc tế nghiêm cấm các hành vi bắt người tùy tiện và giam giữ không thông qua xét xử của nhà nước.

Đến tháng 12, 1979, chính phủ Việt Nam đã thông báo đến Ân xá Quốc tế rằng có khoảng 26.000 người vẫn còn bị giam giữ.

Ân xá Quốc tế cho rằng việc thừa nhận vẫn còn giam giữ những người thuộc quân đội và chế độ VNCH lâu hơn thời hạn ba năm (tính từ tháng 5/1975), còn cho thấy Việt Nam đã vi phạm Sắc lệnh 2-CS/76 do chính CHMN ban hành.

Hội trường chính ở Trại cải tạo Thủ Đức ngày nghỉ cuối tuần, năm 1988. Ảnh: Kienthuc.net.vn.

Từ 3 năm “học tập” đến giam giữ không xét xử vô thời hạn
Khi đến Việt Nam làm việc cùng chính phủ, Ân xá Quốc tế được giải thích rằng, việc một số cá nhân của chế độ cũ vẫn còn bị giam giữ mà không trải qua quy trình truy tố, xét xử là do đã có thay đổi trong việc áp dụng pháp luật tại đây.

Sắc lệnh 2-CS/76 đã không còn được áp dụng tại Việt Nam sau ngày 2/7/1976. Đó là ngày hai quốc gia, CHMN ở miền Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) ở miền Bắc, thống nhất và thành lập một quốc gia mới, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Sắc lệnh 2-CS/76 đã được thay thế bằng Nghị quyết 49 NQ/TVQH do Ủy ban Thường vụ Quốc hội VNDCCH ban hành ngày 20/6/1961 tại miền Bắc Việt Nam, về việc tập trung giáo dục cải tạo những phần tử có hành động nguy hại cho xã hội. Từ ngày thống nhất, Nghị quyết 49 được áp dụng cho cả nước và vô hình trung, đã vô hiệu hóa Sắc lệnh 2-CS/76 của CHMN.

Theo Nghị quyết 49 NQ/TVQH, chính quyền có thể thực hiện việc bắt giam một người để giáo dục cải tạo mà không cần thông qua xét xử, nếu như người đó thuộc “phần tử phản cách mạng ngoan cố, có hành động phương hại đến an ninh chung” hoặc là “phần tử lưu manh chuyên nghiệp.”

Thời gian của việc cải tạo được ấn định là ba năm, và một người có thể được trả tự do sớm hơn thời hạn này nếu cải tạo tốt.

Tuy nhiên, nếu sau ba năm cải tạo mà vẫn bị xem là ngoan cố và không chịu cải tạo thì thời gian cải tạo có thể kéo dài hơn mà không có hạn định cho việc kết thúc.

Báo cáo của Ân xá Quốc tế năm 1981 đã đánh giá Nghị quyết 49 là sự vi phạm nhân quyền trầm trọng và cần phải được xóa bỏ ngay lập tức, vì nó tước đi quyền được xét xử công bằng của một công dân.

Thế nhưng, cho đến thời điểm hiện tại, tháng 6/2017, Nghị quyết 49 vẫn có hiệu lực sử dụng. Về lý thuyết, nó vẫn có thể được áp dụng cho bất kỳ công dân Việt Nam nào, ngay tại lúc này.

Bắt giam và cải tạo cả những người không thuộc về quân đội hay chính quyền VNCH
Ân xá Quốc tế cũng nêu ra những hồ sơ bị bắt giam và đưa đi cải tạo của những người không nằm trong quân đội hay chính quyền Sài Gòn cũ.

Những trường hợp nổi bật và được nêu đích danh trong báo cáo gồm có cựu Khoa trưởng Đại học Luật khoa Sài Gòn (1973-1975) Vũ Quốc Thông, một chính trị gia đối lập tại miền Nam là Hồ Hữu Tường, và nhà văn Duyên Anh.

Những người này hoàn toàn không nằm trong diện bị bắt buộc trình diện học tập cải tạo theo yêu cầu của Ủy ban Quân quản. Họ là giáo sư, chính trị gia đối lập, nhà báo, và nhà văn, vốn là những trí thức tiêu biểu của miền Nam Việt Nam.

Ân xá Quốc tế cũng cho biết, họ không nhận được bất kỳ thông tin gì từ phía nhà nước Việt Nam để có thể kết luận những người này có liên hệ với chính quyền VNCH.

Ngược lại, cộng đồng quốc tế biết đến Khoa trưởng Vũ Quốc Thông là một luật gia và trí thức nổi tiếng tại miền Nam. Cũng như ông Hồ Hữu Tường, ông không những không tham gia vào chính quyền VNCH mà còn là một trong những tiếng nói đối lập và là nhà phê bình chính trị sắc sảo.

Nhà văn Duyên Anh là một cây bút có tên tuổi với các tác phẩm hiện thực, phê bình một cách sống động thực trạng xã hội miền Nam trước 1975.

Họ chính là những hồ sơ tù nhân lương tâm Việt Nam (Vietnamese prisoners of conscience) đầu tiên của Ân xá Quốc tế sau năm 1975.

Ngoài ra, báo cáo cũng nói đến vấn đề áp dụng bắt buộc học tập cải tạo đối với những người đã bị bắt khi tìm cách rời bỏ Việt Nam không chính thức. Tức là những người “vượt biên” bất thành tại Việt Nam sau 30/4/1975.

Bộ luật Hình sự 2015 vừa được thông qua tháng 6/2017 vẫn giữ Điều 347 về việc xử lý hình sự tội xuất nhập cảnh trái phép, và Điều 121 cho tội trốn đi nước ngoài để chống chính quyền nhân dân.

Trong khi đó, từ năm 1981, báo cáo của Ân xá Quốc tế đã cho rằng, nhà nước không thể xử lý hình sự những người muốn rời bỏ Việt Nam, cho dù họ ra đi dưới bất kỳ hình thức nào đi nữa.

Ân xá Quốc tế trích dẫn Điều 13 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Điều 12, phần 2 của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị. Theo đó, một người luôn luôn có “quyền tự do rời bỏ bất kỳ quốc gia nào, kể cả quê hương của họ”.

Và vì vậy, Ân xá Quốc tế đã bày tỏ sự quan ngại, cũng như yêu cầu Việt Nam chấm dứt việc bắt giam và đưa đi cải tạo (cho dù là ngắn hạn) những người vượt biên không thành công. Vì đó cũng là một hành vi vi phạm quyền con người dựa theo luật Quốc tế.

Bên ngoài Trại cải tạo Z30D, huyện Hàm Tân, tỉnh Thuận Hải (nay là tỉnh Bình Thuận). Sau 1975, khoảng 2.000 cựu viên chức, quân nhân của chế độ cũ bị cải tạo tại đây. Đến năm 1988, phần lớn trong số đó đã ra khỏi trại. Nguồn ảnh và thông tin: Kienthuc.net.vn.

Tình trạng giam giữ ở các trại cải tạo kém, có dấu hiệu tra tấn, nhục hình
Báo cáo của Ân xá Quốc tế cũng đưa ra những quan ngại về việc người bị giam tại các trại cải tạo bị tra tấn và nhục hình.

Trước hết, các trại cải tạo vốn không phải là những nhà tù thông thường. Không có bất kỳ quy định của pháp luật nào được áp dụng tại những nơi này. Không có quy định cụ thể và rõ ràng, thì nguy cơ lạm quyền, cũng như khả năng người quản lý trại giam sử dụng tư hình cũng cao hơn.

Ân xá Quốc tế còn cho rằng, ngay cả hành vi bắt và giam giữ những cựu quân nhân, nhân viên và quan chức VNCH mà không thông báo đến gia đình họ các thông tin về nơi giam giữ hay thời hạn giam giữ đã là một hình thức tra tấn đối với người bị giam và thân nhân.

Ngoài ra, tình hình thực phẩm khan hiếm, cũng như việc chăm sóc sức khỏe yếu kém tại những trại cải tạo càng khiến cho tình hình đáng quan ngại hơn.

Bản báo cáo năm 1981 đã đơn cử trường hợp của chính trị gia Hồ Hữu Tường. Vào thời điểm phái đoàn của Ân xá Quốc tế đến Việt Nam, ông Tường đã bị giam giữ không thông qua xét xử trên 2 năm .

Tháng 6, 1980, mặc dù đã biết ông mang bệnh hiểm nghèo và đã đi vào giai đoạn cuối nhưng chính quyền vẫn không đồng ý trả tự do để ông có thể đoàn tụ cùng gia đình ở Sài Gòn. Ngược lại, họ đã chuyển ông từ trại cải tạo ở Xuyên Mộc, Bà Rịa đến bệnh xá của trại giam Hàm Tân, Minh Hải. Ba tuần sau, ông qua đời ngay sau khi được trả về với gia đình.
Ân xá Quốc tế kết luận, chính phủ Việt Nam cần chấm dứt ngay lập tức việc giam giữ tùy tiện, kéo dài vô thời hạn đối với những cựu quân nhân và nhân viên, quan chức của chế độ VNCH.

Họ cũng yêu cầu xóa bỏ việc sử dụng Nghị quyết 49 về việc giam giữ để cải tạo mà không thông qua xét xử, cũng như yêu cầu nhà nước phải cải thiện tình trạng giam giữ tại các trại cải tạo này càng sớm càng tốt.

Tài liệu tham khảo:

-------------------------------------






Ngược đãi sau 30/4 là bi kịch lịch sử   |   Nam Nguyên – RFA  |  2015-04-22






HỒI KÝ ĐẠI HỌC MÁU CỦA HÀ THÚC SINH
1      2      3      4      5      6      7      8      9       10      11      12      13      14






ĐÃ CÓ PHÁP QUYỀN, VẬY PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LÀ GÌ ? (Quỳnh Vi - Luật Khoa Tạp Chí)






Posted on 18/06/2017

Nhà nước pháp quyền (rule of law) là một mô hình nhà nước mà các quốc gia dân chủ hiện đại đã và đang hướng đến.

Ngay tại Việt Nam, chúng ta cũng thấy có không ít những nỗ lực từ các tổ chức xã hội dân sự, giới học giả, và cả từ phía chính quyền, trong việc kêu gọi cải cách pháp luật, để Việt Nam ngày càng trở thành một nhà nước pháp quyền.

Tuy nhiên, tương tự như ở Trung Quốc, định nghĩa pháp quyền của nhà nước Việt Nam, do ảnh hưởng của hệ thống chính trị nên có phần khá đặc biệt so với các nước khác.

Hiến pháp năm 2013, Điều 2 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.”

Vì vậy, pháp quyền trong định nghĩa của nhà nước Việt Nam không chỉ đơn giản là “pháp quyền” – rule of law, mà nó là “pháp quyền xã hội chủ nghĩa” – socialist rule of law.

Pháp quyền và pháp quyền xã hội chủ nghĩa là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.

Theo giáo sư Martin Krygier của Đại học Luật New South Wales, Úc, thì định nghĩa về pháp quyền (rule of law) ở phương Tây hiện nay phần lớn chịu ảnh hưởng của Albert Venn Dicey, luật gia và nhà tư tưởng nổi tiếng người Anh ở thế kỷ 19.

Albert Venn Dicey cho rằng, giữa người dân và chính quyền, hoặc giữa người dân với nhau, tất cả đều phải được đối xử bình đẳng trước pháp luật (equality before the law). Và luật pháp thường thức phải được xem là tối cao (supremacy of the regular or ordinary law).
Vì vậy, không một nhà nước nào có thể dùng luật để cai trị người dân một cách tùy tiện, trong khi chính quyền lại nằm ngoài vòng kiểm soát của luật pháp. Hiến pháp, theo Dicey, chính là kết quả của việc sử dụng pháp luật thường thức (ordinary law) để đảm bảo các quyền lợi của người dân, chứ không phải là nơi ban phát các quyền này đến cho họ.

Những nguyên tắc cơ bản của một nhà nước pháp quyền trong một xã hội tự do còn được tổ chức International Commission of Jurists (ICJ) tóm tắt tại Tuyên bố Delhi năm 1959 (Delhi Declaration 1959).

Theo ICJ, trong một nhà nước pháp quyền, chuẩn mực tố tụng (due process) và quyền được xét xử công bằng (fair trial) của người dân phải được đảm bảo và không thể thỏa hiệp. Ngoài ra, nhà nước pháp quyền sẽ đặt việc tuân thủ Luật tự nhiên (Natural law) lên trên hết, và vì vậy các quyền con người của người dân phải được thực thi đầy đủ mà không bị cản trở. Chính quyền phải đặt mình dưới pháp luật.

Thế thì nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa lại có gì khác với những định nghĩa về nhà nước pháp quyền nói trên?

Trung Quốc và Việt Nam cùng hiểu “pháp quyền” theo một nghĩa, và nghĩa đó rất khác với cách hiểu của phương Tây. Ảnh: Japan Times.

Đặc sản của các nước theo chủ nghĩa cộng sản

Trong một nghiên cứu về pháp quyền và mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa (Socialism and the Rule of Law) công bố năm 1988, giáo sư luật người Anh, Laurence Lustgarten đã định nghĩa pháp quyền ở các nước Âu – Mỹ nói chung, đều dựa trên tinh thần chủ nghĩa cá nhân (individualism) và chủ nghĩa tự do (liberalism). Đây là những khái niệm không thể tồn tại trong mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Vì theo giáo sư Laurence Lustgarten, tại các quốc gia cộng sản, giai cấp, quyền tư hữu, cũng như chủ nghĩa cá nhân đều bị xóa bỏ. Mục tiêu của các thể chế này là đảm bảo trật tự xã hội để tiến đến xã hội chủ nghĩa. Và để đạt được mục tiêu này, quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội đều được trao cho đảng Cộng sản, là lực lượng đại diện cho ý nguyện tập thể của số đông người dân.

Do đó, trong mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật không được đảm bảo là tối cao, vì nó không thể cao hơn sự lãnh đạo của đảng Cộng sản. Ngoài ra, luật pháp còn phải đồng hành cùng các mục tiêu chung trong các chính sách của đảng. Và kết quả là nó dẫn đến một mô hình xã hội toàn trị (authoritarian state).

Chính Hiệu trưởng Wang Zhenmin của Đại học Luật Tsinghua tại Beijing đã giải thích về pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Trung Quốc cho giới truyền thông, sau tuyên bố của Xi Jinping tại đại hội đảng Cộng sản lần thứ 18 năm 2014 như sau:

“Luật pháp bản thân nó là việc luật hóa và hệ thống hóa các chính sách của Đảng; luật là chính sách của Đảng dành cho nhà nước và được giải thích bởi Quốc hội thông qua các thủ tục lập pháp; chính sách của Đảng là linh hồn và nền tảng của pháp luật.”

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa, theo luật sư và nhà nghiên cứu về pháp luật Trung Quốc, Rebecca Liao, là một “nghịch lý chính trị”. Bà Liao cho rằng, tại những nơi như Trung Quốc, pháp luật vốn chỉ là công cụ của đảng Cộng sản.

Chính quyền do đảng Cộng sản lãnh đạo không nằm dưới pháp luật mà ngược lại, đứng trên nó. Các quan chức lãnh đạo của đảng Cộng sản dùng pháp luật để cai trị người dân một cách hữu hiệu hơn, nhưng đồng thời lại đặt mình nằm ngoài vòng pháp luật.

Tại Việt Nam, năm 2013, ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư đảng Cộng sản cũng từng phát biểu rằng, Hiến pháp là “văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương lĩnh của Đảng”.

Một ví dụ được luật sư Liao, đưa ra để dẫn chứng cho kết luận nói trên là việc khiếu kiện chính quyền tại Trung Quốc.

Người dân hầu như không thể nộp đơn khiếu kiện chính quyền hoặc những nhà lãnh đạo cao cấp của đảng Cộng sản. Tuy rằng trong những năm gần đây ở Trung Quốc, các bộ luật liên quan đến việc khiếu kiện chính quyền và quan chức đã phần nào được cải cách theo chiều hướng có lợi cho người dân. Thế nhưng, trong thực tế, các vụ kiện đó đều bị chính quyền tìm cách ép buộc người dân phải hòa giải hoặc bãi nại.

Cũng theo luật sư Liao, vai trò của các thẩm phán trong hệ thống luật pháp xã hội chủ nghĩa cũng nằm trong sự lãnh đạo của đảng Cộng sản. Và vì thế, tòa án không hề độc lập. Trước pháp luật, người dân và chính quyền vốn không phải là hai thực thể bình đẳng. Các thẩm phán vẫn đưa ra những phán quyết có lợi cho chính quyền, chứ không áp dụng luật pháp một cách công bình.

Zhou Qiang, Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao Trung Quốc đã yêu cầu ngành toà án cần tránh xa các tư tưởng phương Tây về “tư pháp độc lập”. Ảnh: China Daily/Reuters.

Tại Trung Quốc, từ cuối thập niên 1990, chính quyền đã đề cao việc sử dụng cụm từ “ỷ pháp trị quốc” (yi fa zhi guo –  ). Cụm từ này có nghĩa là dùng pháp luật để cai trị, hoặc cai trị “theo quy định của pháp luật”. Họ cũng luật hóa cụm từ này trong Hiến pháp và tiếp tục sử dụng nó cho đến thời điểm hiện tại.

Đây cũng là một đặc điểm khác của mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, khiến một số các học giả luật quốc tế cho rằng nó hoàn toàn khác với nhà nước pháp quyền. Việc sử dụng cụm từ này trong các bản Hiến pháp và những bộ luật quốc gia của Trung Quốc, theo giáo sư Susan Trevaskes, phụ tá Giám đốc Trung tâm nghiên cứu về Trung Quốc tại Đại học Quốc gia Úc, gia tăng quyền lực cho đảng Cộng sản và các nhóm lợi ích của đảng trong việc cai trị đất nước.

Điều này được khẳng định qua các kỳ đại hội đảng từ thập niên 1990 đến nay, và đặc biệt là qua tuyên bố của Xi Jinping vào cuộc họp toàn thể lần 4 của đại hội đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 năm 2014. Xi đã nhấn mạnh rằng, sự lãnh đạo toàn diện của đảng Cộng sản chính là định nghĩa của pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Luật pháp không phải là công cụ để uốn nắn, chấn chỉnh nhà nước, mà nó là công cụ của nhà nước để uốn nắn, chấn chỉnh người dân.

Ngôn ngữ pháp lý của Việt Nam cũng khá tương tự như Trung Quốc. Ví dụ, các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình ở Việt Nam đều được đảm bảo tại Điều 25 của Hiến pháp 2013. Tuy nhiên, việc thực hiện các quyền này phải do pháp luật quy định.

Như đã nói ở đầu bài viết, định nghĩa chung của mô hình nhà nước pháp quyền của một xã hội tự do trên thế giới nhấn mạnh việc tôn trọng tối đa các quyền tự nhiên, quyền con người của người dân mà không bị bất kỳ cản trở gì từ phía nhà nước. Nghĩa là, một người đương nhiên có thể thực hiện các quyền này mà không cần nhà nước đặt ra quy định làm thế nào để có thể thực hiện nó.

Khi áp đặt “quy định của pháp luật” lên việc thực hiện các quyền tự nhiên (natural rights) của người dân, thì mô hình của thể chế pháp lý này không phải là nhà nước pháp quyền.

Vì sao chúng ta cần nhìn nhận rõ pháp quyền xã hội chủ nghĩa?

Joshua Rosenzweig, nhà nghiên cứu chiến lược của tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International) chi nhánh Hong Kong cho rằng, càng sớm nhận rõ sự khác biệt giữa pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại những nơi như Trung Quốc và nhà nước pháp quyền tại các nước dân chủ, càng tốt.

Vì theo ông Rosenzweig, mỗi khi nghe các lãnh đạo Trung Quốc nhắc đến “pháp trị” hay “ỷ pháp trị quốc”, thì giới nghiên cứu quốc tế đều hồ hởi nghĩ rằng Trung Quốc đang nói đến “pháp quyền” theo định nghĩa của họ. Điều này là một phán đoán sai lầm, vì những nơi như Trung Quốc chưa chắc muốn hướng đến nhà nước pháp quyền dựa trên văn hóa chính trị và pháp lý của các nước dân chủ phương Tây.

Không nhận rõ sự khác biệt giữa hai định nghĩa pháp quyền có thể dẫn đến một việc tai hại khi các quốc gia Tây phương ủng hộ những lời hô hào thực thi “pháp trị” hay “ỷ pháp trị quốc” của chính quyền Trung Quốc. Đó là vô hình trung, họ có thể đang tiếp sức cho sự tồn tại của đảng cầm quyền, chứ không phải là giúp đỡ xây dựng một nhà nước pháp quyền thực sự.

Hệ thống pháp luật của Trung Quốc đề cao việc “ổn định trật tự xã hội” và “kiểm soát an ninh quốc gia”, nhưng không nhắc nhở đến việc đặt quyền lãnh đạo của đảng Cộng sản dưới pháp luật. Sự bất bình đẳng trong hệ thống pháp lý đó khiến ông Rosenzweig không dám mong mỏi một nền pháp quyền kiểu Âu Mỹ có thể được thực thi trong thời gian gần tại đây.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong thực tế là một nhà nước ỷ pháp trị quốc, sử dụng pháp luật để cai trị người dân (rule by law), trong khi bản thân nhà nước thì có quyền đứng trên pháp luật.

Còn nếu muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền (rule of law) đúng nghĩa, thì câu hỏi đầu tiên cần được đặt ra là, làm thế nào để đảm bảo pháp luật có được chỗ đứng tối cao trong xã hội mà không một nhà nước hoặc đảng cầm quyền nào có thể ở trên nó?

*
Tài liệu tham khảo:


---------------------------------------

Luật sư nhân quyền Lê Quốc Quân trả lời phỏng vấn của nhà báo Trần Quang Thành

Luật pháp của cái gọi là nhà nước pháp quyền Việt Nam luôn là nỗi lo ngại, là lực cản không chỉ đối với người dân Việt Nam mà nó còn là nỗi quan ngại của cả dư luận quốc tế. Nó trở nên quái gở và xa lạ với hệ thống luật pháp quốc tế khi được giới cầm quyền cộng sản gắn cho cái đuôi “xã hội chủ nghĩa”.

Từ Hà Nội, Luật sư nhân quyền Lê Quốc Quân đã có cuộc trao đổi với nhà báo Trần Quang Thành về chủ đề này.

Nội dung như sau - Mời quí vị cùng nghe:









View My Stats